Thành tích
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

CƠ SỞ 2 – ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI

NHÌN LẠI HOẠT ĐỘNG 17 NĂM QUA VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN

TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

                                                                                                      Võ Xuân Lý

                                                                                                Phó Giám đốc Cơ sở 2

C

ơ sở 2 Trường Đại học giao thông vận tải TP. Hồ Chí Minh thành lập ngày 27/04/1990 theo quyết định số 139/TCCB của Bộ giáo dục và Đào tạo là một bộ phận cấu thành quan trọng của Trường Đại học Giao thông Vận tải. Việc ra đời của cơ sở 2 là kết quả của nhận thức tính cấp bách của công tác đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật cho ngành giao thông vận tải phía Nam sau ngày miền Nam giải phóng nói riêng và nhu cầu mới cho sự nghiệp xây dựng đất nước nói chung. Từ đó đến nay Cơ sở 2 là trung tâm đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật cho ngành giao thông vận tải phía Nam và các ngành quản trị kinh doanh ở các lĩnh vực: Xây dựng công trình giao thông, Vận tải - Kinh tế, Cơ khí giao thông và Điện - điện tử  - viễn thông thuộc các chuyên ngành đào tạo của Nhà trường.

      Hiện nay, cơ sở 2 có gần 100 cán bộ, công nhân viên đảm nhận đào tạo, quản lý hơn 6.000 sinh viên, học viên cao học. Hàng năm tuyển mới khoảng 700 - 800 sinh viên hệ chính qui, 600 - 700 sinh viên hệ không chính qui. Tính từ ngày thành lập đến nay đã đào tạo được gần 8.000 kỹ sư các hệ (trong đó gần 5.000 kỹ sư hệ chính qui) và trên 160 thạc sỹ.

I. CÔNG TÁC ĐÀO TẠO

1. Đào tạo đại học

      - Từ khi mới thành lập chỉ có một ngành (kinh tế vận tải), đến nay cơ sở 2 đã đào tạo 31 chuyên ngành trong tổng số 64 chuyên ngành của nhà trường. Đáng kể nhất là tăng nhanh qui mô đào tạo:

      - Năm 1990 chỉ có khoảng 100 sinh viên, đến nay lưu lượng hàng năm có gần 6.000 sinh viên các hệ, số lượng này tương đối ổn định những năm gần đây. Chủ trương của nhà trường trong thời kỳ này là chú trọng việc nâng cao chất lượng đào tạo. Việc đào tạo hệ không chính qui đã mở rộng nhiều ở các tỉnh phía Nam và miền Trung.

      - Hiện nay tại Cơ sở 2 có 14 địa điểm đào tạo hệ vừa học vừa làm, bao gồm:1. Đồng Nai, 2.Tây Ninh, 3.Bưu điện Cần Thơ, 4. Trường Trung học GTVT miền Nam (Cần Thơ), 5. An Giang, 6. Trà Vinh, 7. Long An, 8. Tiền Giang, 9. Phú Yên, 10. Khánh Hoà, 11. Gia Lai, 12. Bạc Liêu, 13. Bình Dương, Tại Cơ sở 2.

      - Kỹ sư ra trường tìm được việc làm chiếm tỷ lệ khá cao và được sản xuất chấp nhận. Rất nhiều kỹ sư đang giữ các vị trí công tác quan trọng trong các cơ quan xí nghiệp của Nhà nước. Đặc biệt các Giám dốc sở GTVT, sở Bưu điện của các tỉnh phía Nam hiện nay đều được đào tạo từ cơ sở 2, có nhiều tỉnh là cả Ban Giám đốc. Các công trình lớn như cầu Mỹ Thuận, cầu Cần Thơ thì chỉ huy trưởng phía Việt Nam là sinh viên đại học Giao thông vận tải cơ sở 2. Đây thực sự là những thành quả đáng khích lệ.

2. Đào tạo sau đại học

      - Song song với bậc đại học, từ năm 1996 cơ sở 2 đã tiến hành đào tạo sau đại học thuộc các chuyên ngành xây dựng công trình giao thông, cơ khí giao thông, quản trị kinh doanh, kỹ thuật viễn thông. Nhiều thạc sỹ ra sản xuất đã phát huy được vai trò của mình và là những bổ sung nguồn nhân lực trí thức quí báu.

II. VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ LAO ĐỘNG SẢN XUẤT

      - Mặc dù lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật còn mỏng, khối lượng giảng dạy tại cơ sở 2 lớn, song vẫn chú trọng đến việc phát triển NCKH cả trong CBGV và sinh viên.

      - Công tác NCKH của giáo viên đã có những khởi sắc, đã hoàn thành 11 đề tài cấp Bộ, 28 đề tài cấp trường và hơn 150 đề tài NCKH sinh viên. Đặc biệt từ năm 2000 đến nay nhiều đề tài NCKH của sinh viên đã nhận được giải thưởng sinh viên NCKH của bộ GTĐT và giải thưởng VIFOTEC.

      - Nhìn chung, công tác NCKH trong sinh viên và trong cán bộ giáo viên được phát động và duy trì, số lượng tăng đều hàng năm và chất lượng được cải thiện.

      - Công tác NCKH phục vụ sản xuất cũng ngày càng được cải thiện, đã tham gia thực tế nhiều công trình. Tổ chức kiểm định chất lượng xây dựng đường, khảo sát thiết kế hàng chục công trình và bắt đầu tổ chức thi công có ứng dụng KHKT. Địa bàn hoạt động được mở rộng từ TP. Hồ Chí Minh đến ĐăkLăk, Đồng Nai, Bà Rịa -Vũng Tàu, Long An, Bình Dương, Bình Thuận, Kiên Giang …

      - Hiện nay tại cơ sở 2 có 2 đơn vị khoa học công nghệ, đó là Trung tâm đào tạo thực hành và chuyển giao công nghệ GTVT và Chi nhánh tư vấn triển khai công nghệ và xây dựng giao thông.

Công tác xây dựng cơ sở vật chất:

    Tiếp thu một cơ sở rộng lớn nhưng ngày càng xuống cấp nghiêm trọng–Do vậy, phải thường xuyên cải tạo, xây dựng mới trong phạm vi có thể từng bước đáp ứng được qui phát triển đào tạo và NCKH. Trong 17 năm qua đã:

      - Sửa chữa toàn bộ 06 nhà học khu giảng đường, bao gồm các nhà từ E1 đến E6;

      - Xây dựng 3 nhà học mới là E8, E9 và E10 với 20 phòng học mới;

      - Sửa chữa, cải tạo 6 nhà khách giáo viên với quy mô phòng 2 người ở, khép kín;

      - Cải tạo 1 nhà ăn cho giáo viên;

      - Sửa chữa, cải tạo nâng cấp 8 dãy nhà ở KTX cho gần 1000 sinh viên nộ trú;

      - Cải tạo, nâng cấp nhà làm việc cấp 4 thành nhà 3 tầng tại Khu văn phòng;

      - Cải tạo, nâng cấp nhà E lầu thành Nhà thí nghiệm, đầu tư trang thiết bị cho 05 phòng thí nghiệm và thực tập tin học;

      - Xây dựng mới Thư  viện 3 tầng;

      - Xây dựng mới 4 nhà tập thể cho cán bộ, CNV;

     - Xây dựng mới nhà học 5 tầng bổ sung thêm 20 phòng học khang trang;

     - Hoàn thành được hệ thống hàng rào khép kín.

IV. NHỮNG TỒN TẠI VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN

IV.1. Những tồn tại tại đặt ra như những thách thức

   1. Khối lượng công tác rất lớn do số lượng giờ giảng ngày càng tăng

      Với sự phát triển của qui mô đào tạo hàng năm tăng khoảng 5%, tại thời điểm hiện nay hàng năm tuyển mới khoảng 800 chính qui 600 hệ không chính qui và 60-70 học viên cao học. Do vậy khối lượng công tác của mỗi giảng viên, cán bộ quản lý là rất lớn gấp từ 3 - 5 lần chuẩn nhà nước qui định. Khối lượng công tác quản lý và phục vụ đào tạo cũng tăng theo, nhất là khi quản lý theo tín chỉ có một số cán bộ không đáp ứng được, trong khi đó biên chế về hành chính cần phải tinh giảm.

      Mặt khác, hàng năm cơ sở 2 đều được nhà trường căn cứ khối lượng công tác giao thêm chỉ tiêu cho các bộ môn để tuyển dụng biên chế và hợp đồng. Tuy nhiên vì nhiều lý do khách quan và chủ quan phần lớn các bộ môn chỉ tuyển được khoảng 50% chỉ tiêu đặt ra.

   2. Chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý còn bất cập

      Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và phục vụ, hệ thống phòng thí nghiệm là điều kiện quyết định phát triển cơ sở 2 trong những năm tới. Việc hàng loạt trường được thành lập mới trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các trường đại học thì vấn đề về chất lượng đội ngũ (Giáo viên có trình độ cao, số lượng chuyên gia đầu ngành đang làm việc trong trường …) là rất quan trọng. Trong khi đó có một số thầy cô giáo đã nghỉ hưu, hiện nay giáo viên đứng lớp còn rất trẻ, thiếu kinh nghiệm giảng dạy. Đặc biệt các giáo viên trẻ này lại giảng dạy khối lượng lớn nên giành thời gian cho NCKH, sinh hoạt học thuật, học ngoại ngữ rất ít. Hiện tại, các giáo viên có trình độ cao, tỷ lệ giáo viên có trình độ sau đại học ít. Việc tham khảo tài liệu bằng tiếng nước ngoài còn ít, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong chuẩn bị bài giảng, giảng dạy, NCKH chưa nhiều. Việc nghiên cứu ứng dụng triển khai công nghệ ra thực tiễn sản xuất còn rất ít. Các cán bộ thuộc các ban chưa được nâng cao trình độ phù hợp với việc mình đang làm.

IV.2. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRONG THỜI GIAN TỚI

   1. Công tác xây dựng đội ngũ

      Nhiện vụ xây dựng đội ngũ GV- CB-CC  là nhiệm vụ cấp bách, là điều kiện sống còn của cơ sở 2, đặc biệt nâng cao chất lượng đào tạo, nâng cao uy tín của trường đối với xã hội nói chung và khu vực phía nam nói riêng, tăng khả năng cạnh tranh trong điều kiện thực hiện tự chủ của các trường học. Xây dựng đội ngũ giáo viên trước hết là trách nhiệm của các bộ môn kết hợp với liên bộ môn ở cơ sở 2. Tiến tới các môn học điều có nhóm giáo viên đảm trách được vấn đề chuyên môn. Có như vậy mới đảm bảo được quyền lợi người học. vấn đề đặt ra là tuyển dụng, đánh giá chất lượng đội ngũ hàng năm. Khi được ban giám hiệu duyệt chỉ tiêu giáo viên hàng năm, thì các Bộ môn kết hợp chặt chẽ với Liên bộ môn ở cơ sở 2 để việc giới thiệu, thủ tục tuyển chọn được nhanh chóng. Việc tuyển bổ sung giáo viên hàng năm còn với mục đích để đảm bảo hoạt động bình thường của bộ môn khi có cán bộ đi học hoặc đi công tác.

      Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng, nâng cao chất lượng chuyên môn và đạo đức cho đội ngũ giảng viên. Do phải đảm một khối lượng giảng dạy lớn nên giảng viên ít có điều kiện bồi dưỡng nâng cao thêm. Để nâng cao chất lượng đào tạo là phải nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên, tham gia nhiều công tác học thuật, tăng cường công tác học ngoại ngữ, giành thời gian cho việc tiếp cận với thực tế, cập nhật những thay đổi trong công tác chuyên môn. Mặt khác có chính sách khuyến khích giảng viên tự học ngoại ngữ để có thể đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài. Tiếp tục có chính sách thỏa đáng để mời giáo viên có học hàm, học vị, có trình độ chuyên môn tốt đến độ tuổi về hưu cộng tác với bộ môn về công tác giảng dạy mà đặc biệt là công tác bồi dưỡng, kèm cặp giảng viên trẻ.

   2. Tăng cường công tác xây dựng cơ sở vật chất

      Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng trong việc xây dựng mới, chỉnh trang lại khu lớp học, mua sắm thiết bị thí nghiệm, giảng dạy, khu làm việc, ký túc xá, nhà nghỉ giáo viên và bộ mặt của trường ngày càng đổi thay, song chưa tương xứng với qui mô cũng như thực tế sản xuất đòi hỏi. Trong thời gian tới tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất phục vụ công tác đào tạo và NCKH. Tăng cường đầu tư chiều sâu các phòng thí nghiệm cho giảng dạy, quan tâm đến việc trang bị các thiết bị mới có thể sử dụng được cho việc NCKH, triển khai các thí nghiệm của học viên cao học, NCS cũng như tham gia sản xuất. Thực tế có một số thí nghiệm ở ngoài sản xuất thuộc lĩnh vực đang giảng dạy nhưng cả thầy lẫn trò đều chưa được tiếp cận. Tiếp tục qui hoạch khu làm việc của nhà trường, qui hoạch khu tập thể GV – CB - CNV để trường ngày càng khang trang, tập thể Cơ sở 2 yên tâm công tác.

      Tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công tác đối ngoại và các hoạt động triển khai công nghệ phục vụ sản xuất trong giảng viên. Duy trì và khai thác tốt chi nhánh công ty tư vấn triển khai công nghệ giao thông và Trung tâm đào tạo thực hành và chuyển giao công nghệ giao thông vận tải. Những nơi này còn là nơi triển khai các nghiên cứu và lao động sản xuất, NCKH của thầy và trò.

      Trên đây là một số nét tổng quát về tình hình đào tạo tại cơ sở 2 suốt 17 năm qua, những khó khăn và hướng khắc phục chính, xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, tăng cường cơ sở vật chất cho công tác giảng dạy nhất  là các phòng thí nghiệm đáp ứng nhiệm vụ phát triển Cơ sở 2 là trung tâm đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật cho ngành GTVT các tỉnh phía Nam nói riêng và các ngành kinh tế quốc dân nói chung bao gồm các lĩnh vực: Xây dựng công trình giao thông, vận tải - kinh tế, Cơ khí giao thông và điện - điện tử viễn thông là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của nhà trường.

      Các ý kiến đóng góp hôm nay và bài viết của quí vị đã được đăng kỷ yếu về các vấn đề như: Yêu cầu của nhà tuyển dụng khi sinh viên ra trường, góp ý về chương trình đào tạo, việc tiếp xúc với thực tế của sinh viên, khả năng ngoại ngữ, tin học, ý thức chấp hành kỹ luật của người kỹ sư … là những đóng góp quí báu. Chúng tôi nghiêm túc ghi nhận những đóng góp của quí vị đại biểu và sẽ có những giải pháp hữu hiệu nhằm đẩy mạnh sự phát triển của cơ sở 2 ngày càng vững chắc.